| Ngày như thế nào tốt cho cưới hỏi hay làm nhà | ||
1. Cách chọn ngày cưới...!
Chọn ngày cưới là chỉ việc chọn Ngày, Tháng, Năm với ý nghĩa may mắn, có lợi không có hại, là truyền thống lâu đời của dân tộc ta. "Tránh voi chẳng xấu mặt nào", "Có kiêng có lành" là câu nói rất quen thuộc của chúng ta.
Đây là phương pháp rất phức tạp và đặc biệt, và cũng là việc cần chuẩn bị đầu tiên cho lễ cưới. Thông thường lấy can chi lịch pháp làm cơ sở, kết hợp thêm với Bát quái, Cửu tinh, Ngũ hành,... để tính toán, từ đó chọn ra ngày thích hợp, tìm lành tránh dữ.
Điều bạn cần chú ý là: (1) Bạn phải chọn ngày sớm để còn đặt nhà hàng và các dịch vụ khác, nếu không sẽ có thể không chọn được nhà hàng ưng ý. Thông thường cần đặt trước 2-3 tháng, có người còn đặt trước tận 6-7 tháng. (2) Mỗi người dựa theo cách thức riêng của mình mà có cách chọn ngày riêng, vì thế có trường hợp người này bảo là ngày tốt, người kia bảo là ngày xấu. Lúc này bạn nên làm thế nào? Tốt nhất là hãy trang bị cho mình những kiến thức chung thường gặp sau:
Ngày xưa, trước khi dựng vợ gả chồng cho con cháu, các cụ thường nhờ người thầy xem tuổi của đôi trẻ để lương duyên của chúng khỏi bị "nửa đường gẫy gánh" hay ... | ||
Chi tiết | ||
| Giới thiệu Âm lịch Việt Nam | ||
Dựa vào kết quả của một công trình nghiên cứu công phu về lịch và lịch Việt Nam của giáo sư Hoàng Xuân Hãn, chúng ta biết được trước năm 1945 tại Việt Nam dùng lịch nào và lịch đó khác với lịch Trung Quốc ở những giai đoạn nào. 1. Thời Bắc thuộc: Lịch Trung Quốc được sử dụng tại Việt Nam. 2.Từ nhà Ngô đến đầu nhà Lý (khoảng 939-1078): Có lẽ các vương triều đầu tiên của nước Việt Nam độc lập vẫn dùng lịch Tàu. 3. Nhà Lý và nhà Trần (1080-1300): Việt Nam tự tính lịch riêng (theo một phép lịch thời nhà Tống bên Trung Quốc). Có nhiều điểm khác biệt giữa lịch ta và lịch Trung Quốc trong giai đoạn này. Đáng tiếc là không có đủ tài liệu lịch sử để phục hồi lịch này. 4. Nhà Trần, Hồ và Lê (1306-1644): Thời kỳ này Việt Nam sử dụng lịch giống như lịch nhà Nguyên và Minh dùng tại Trung Quốc (có thể người Việt đã học được phép lịch Thụ Thời khi đi sứ nhà Nguyên khoảng 1300 và sau đó có thể tự tính lịch). Ngay cả trong thời kỳ Trịnh-Nguyễn phân tranh (1627 trở đi), các chúa Nguyễn ở miền Nam vẫn dùng lịch giống nhà Lê-Trịnh. Năn 1384 nhà Minh ở Trung Quốc đổi tên lịch Thụ Thời thành Đại Thống nhưng vẫn giữ nguyên cách tính. Cho đến hết đời Minh (1644) lịch ta và lịch Tàu không khác nhau. 5. Từ thời Trịnh-Nguyễn phân tranh đến đầu nhà Nguyễn (1645-1812): Việt Nam dùng lịch riêng, tính theo phép lịch ... | ||
Chi tiết | ||
| Lời dẫn | ||
Từ điển Nhật dụng thường đàm của Phạm Đình Hổ (1768-1839), là bộ tự điển song ngữ Hán -Việt nhỏ, giải thích chữ Hán bằng chữ Nôm, xếp theo 32 môn loại như: Thiên văn, Luân tự, Nho giáo, Đạo giáo, Thích giáo, Thân thể, Thất ốc, Tác dụng, Thực phẩm, Quả thưởng, Đại dụng, Trướng dụng, Du hí, Tật bệnh, Cầm thú, Trùng loại v.v... Các từ ngữ tuy không nhiều, nhưng có thể nói là tạm đủ để đọc biết các chữ thông thường. Đó cũng là một tài liệu mà chúng ta có thể dùng so sánh để thấy những chỗ khác biệt trong cách chú và giải nghĩa chữ Hán bằng chữ Nôm. Từ điển song ngữ Nhật dụng thường đàm hiện đang lưu giữ tại Thư viện Quốc gia Việt Nam, mang kí hiệu R.1726, được khắc in năm Tự Đức thứ 4 (1851), do nhà in Đồng Văn Trai tàng bản. Ngoài trang bìa và bài tựa, sách gồm 52 tờ khắc in trên dấy dó. Nội dung được chia làm 32 môn loại, mỗi môn loại chia thành nhiều mục từ khác nhau; mỗi mục từ được chia làm 2 phần là chữ Hán và giải thích nghĩa bằng chữ Nôm:天 Thiên: 羅𡗶là trời; Nhật 日:羅𩈘𡗶 là mặt trời … Theo như thống kê của các nhà nghiên cứu, Từ Hán Việt trong tiếng Việt chiếm khoảng 70 %. Do đó việc học tập và hiểu biết cặn kẽ từ Hán Việt đối với học sinh, sinh viên và những người ngoại quốc học tiếng Việt là rất cần thiết. Hiện nay, ở Việt Nam ngoài một số cơ ... | ||
Chi tiết | ||
| Giải thưởng Balaban 2010 | ||
Hà Nội ngày 21/10/2010. Tại Trung tâm Hội nghị Báo chí (59A Lý Thái Tổ & 12 Lý Đạo Thành) - Hội bảo tồn di sản Nôm (VNPF) đã trao giải thưởng thường niên Balaban cho hai nhà nghiên cứu: Phó Giáo sư - Tiến sĩ Đào Thái Tôn và nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu Nguyễn Quảng Tuân nhằm tôn vinh những đóng góp to lớn của họ trong công cuộc nghiên cứu và bảo tồn di sản văn hoá chữ Nôm, và đồng thời trao học bổng nghiên cứu chữ Nôm cho ông Nguyễn Tuấn Cường nhằm thúc đẩy việc nghiên cứu học tập chữ Nôm trong thanh niên. Đào Thái Tôn sinh ngày 14 tháng 9 năm 1943 tại Hà Nội là một nhà nghiên cứu về Truyện Kiều, thơ Hồ Xuân Hương và Hán Nôm nổi tiếng tại Việt Nam. Ông đã học qua chuyên ngành Hán Nôm từ năm 1965-1972 sau đó lại công tác tại Viện Hán Nôm cho đến tháng 10/2008. Tháng 7 năm 1977 ông đã bảo vệ thành công luận văn Tiến sĩ về “Nghiên cứu văn bản Lưu Hương Ký của Hồ Xuân Hương” do Giáo sư Cao Xuân Huy hướng dẫn. Sau đó, ông tiếp tục bảo vệ thành công luận án Phó giáo sư về tiểu sử, tác phẩm của nhà thơ Hồ Xuân Hương vào tháng 9 năm 2002. Nguyễn Quảng Tuân (sinh ngày 11 tháng 6 năm 1925), là một nhà văn, nhà thơ và nhà nghiên cứu miền Nam Việt Nam. Ông sinh ra tại làng Yên Mẫn, huyện Võ Giàng (nay thuộc huyện Quế Võ), tỉnh Bắc Ninh, miền ... | ||
Chi tiết | ||
| Giải thưởng Balaban 2009 | ||
Năm 2009 giải thưởng được trao tặng cho Giáo sư Nguyễn Quang Hồng và ông Phạm Thế Khang. Giải thưởng này được trao cho giáo sư Nguyễn Quang Hồng, nguyên phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Giáo sư Hồng được tôn vinh về kiến thức Nôm uyên bác của ông, bao gồm quyển Tự Điển Chữ Nôm, một công trình rất đồ sộ mà ông là chủ biên, tác phẩm Khái luận văn tự học chữ Nôm, cuốn sách chuyên khảo sâu sắc về hệ thống chữ viết cổ (Tp HCM 2008), và đặc biệt là những nỗ lực của ông trong suốt mười hai năm, từ 1994 đến 2006, để đưa gần 10 000 chữ Nôm vào chuẩn quốc tế Unicode và ISO 10646. Giải thưởng vinh danh ông Phạm Thế Khang, Giám đốc Thư viện Quốc gia Việt Nam, về quyền lãnh đạo nhìn xa trông rộng trong việc tạo ra Thư viện số thức đầu tiên đối với tuyển tập 4000 văn bản cổ Hán Nôm của Việt Nam tại Thư viện Quốc gia. Đây là thư viện số thức đầu tiên các tư liệu cổ của Việt Nam được mở rộng cho người Việt Nam và toàn thế giới đến với di sản chữ Nôm. Quyền lãnh đạo của ông như một nhà khoa học thư viện hiện đại đã đem tới sự thừa nhận toàn thế giới với di sản văn hoá cổ của Việt Nam. ... | ||
Chi tiết | ||
